Phim Chúng Tôi Muốn Sống - We want to live

Phim "Chúng Tôi Muốn Sống" là phim của đạo diễn Vĩnh NoãnManuel Conde, không phải phim thời sự hay tài liệu của chính quyền miền Nam, do Giám Đốc Sản Xuất là Bùi Ngọc Giao thực hiện với Xảo Thuật của nghệ sĩ Totoy Torrente, và sự cộng tác của hệ thống quân đội Việt Nam Cộng Hòa.
Phim được trình chiếu miễn phí ở miền Nam cho công chúng vào khoảng năm 1956.
Nội dung Cuốn phim "Chúng Tôi Muốn Sống" trình bày cuộc đời của đại đội trưởng Vinh trong quân đội Việt Minh như biết bao thanh niên trí thức đã bị Đảng Cộng sản Việt Nam lợi dụng lòng yêu nước. Anh là một chiến sĩ quốc gia, hăng say chiến đấu cho nền độc lập của Việt Nam trong cuộc Kháng Chiến chống Thực dân Pháp. Anh trở thành nạn nhân của chế độ Cộng sản bạo tàn khi "cách mạng thành công" - Bố, mẹ của Vinh, cùng với biết bao nạn nhân vô tội khác đã bị chôn sống, xử tử man rợ trong các cuộc-gọi là "Đấu Tố-Cải Cách Ruộng Đất" tại Bắc Việt, vào giữa thập niên 1950 (dưới sự chỉ đạo, "cố vấn" của quan thầy Cộng sản Trung quốc)

Nắng chiều

  Phim Nắng chiều - bộ phim tình cảm của miền Nam tự do với Thanh Nga và Hùng Cường.

Tiến trình đàm phán bí mật Thành Đô 1990 (Kỳ 9)

Lo ngại cho tương lai Việt Nam
Chúng ta cần biết nhiều về đối phương Bành trướng chọn lấy ngoại giao "quan hệ song phương" và "ích lợi quyền lực chung", họ quyết định dùng phương thức đàm phán cho đến năm 2020, của một giao đoạn hòa nhập trong thế kỷ 21. Hai đảng Cộng sản tiến hành nhịp độ "mịn", cùng ăn chung trên một mẫu bánh Việt Nam. Khởi đầu ăn từ Vịnh Bắc Bộ vào năm 1991 sau khi Đỗ Mười và Võ Văn Kiệt đến Bắc Kinh. Sau 9 năm đàm phán Việt Cộng ký kết mở rộng diện tích lãnh hải vùng đảo Bạch Long Vĩ cho Trung Cộng, từ đây lãnh hải của Việt Nam bị thu nhỏ lại, quyền hoạt động ngư nghiệp của người dân Việt Nam giới hạn ven bờ Vịnh Bắc Bộ. Đoạn nửa còn lại xây dựng kế hoạch áp dụng mô hình cho đàm phán biên giới đất liền, vùng đảo Hoàng Sa, Trường Sa và Biển Đông Việt Nam-Trung Quốc. Giai đoạn sau khi ký những hiệp ước trên thành công, Trung Cộng tung ra những nhóm đàm phán dưới sự chi phối của gián điệp xây dựng quốc gia, chiến tranh, chính trị, phản gián, kinh tế, và quốc phòng để nhập Việt Nam vào đại lục Trung Quốc.

Tiến trình đàm phán bí mật Thành Đô 1990 (Kỳ 8)


Huỳnh Tâm (Danlambao) - Hầu Hạc Tường (Hou Hexiang) gửi cho chúng tôi bài viết của phóng viên Bổn Khan Tấn (Ben Kanxun) nội dung cuộc phóng vấn Ngoại trưởng Việt Nam Nguyễn Duy Niên sau khi đã ký kết những thỏa thuận. Ông đồng ý trả lời, phỏng vấn liên quan đến "Thỏa thuận phân định Vịnh Bắc Bộ", "Việt Nam-Trung Quốc tăng cường tin cậy lẫn nhau" và "thúc đẩy quan hệ song phương, hợp tác đóng góp toàn diện".[1]
Những dối trá của đảng "Bác" chưa hề tiết lộ. 

Tiến trình đàm phán bí mật Thành Đô 1990 (Kỳ 7)

Huỳnh Tâm (Danlambao) - Việt Nam có Vịnh Bắc Bộ là một vịnh nửa kín, được bao quanh bởi đất liền giữa Việt Nam và đảo Hải Nam của Trung Quốc. Vịnh Bắc Bộ là tuyến đường biển phía Tây Nam của Biển Đông, có diện tích khoảng 126.250 km2 (36.000 hải lý vuông), chiều ngang nơi rộng nhất khoảng 310 km (176 hải lý), nơi hẹp nhất ở cửa Vịnh rộng khoảng 207,4 km (112 hải lý).
Bờ Vịnh Bắc Bộ thuộc 10 tỉnh, thành phố của Việt Nam với tổng chiều dài 763 km, Vịnh có hai cửa: eo biển Quỳnh Châu nằm giữa bán đảo Lôi Châu và đảo Hải Nam với bề rộng 35,2 km (19 hải lý) và cửa chính của vịnh từ đảo Cồn Cỏ (Việt Nam) tới đảo Hải Nam (Trung Quốc) rộng 207,4 km (112 hải lý).

Tiến trình đàm phán bí mật Thành Đô 1990 (Kỳ 6)


Huỳnh Tâm (Danlambao) - Ngoại trưởng Trung Quốc Tiền Kỳ Tham tuyên bố trong hội nghị đàm phán tại Hà Nội:
− Đã đến lúc chúng tôi xử lý vùng Vịnh Bắc Bộ của Việt Nam, thẳng thắn, thu về toàn bộ lãnh hải, nay phân giới cắm cột mốc chỉ là một động tác giả hình, nhằm che khuất lòng dân của bạn phẫn uất, chúng tôi thực hiện những gì dưới sự đồng tình của quý đồng chí. Đàm phán đã trở thành một phần quan trọng, chúng tôi muốn phân định ranh giới lãnh thổ và lãnh hải, đây là một hồ sơ Biển Đông cho phép hợp thức hóa trước Liên Hiệp Quốc, các bạn là người hổ trợ cho chúng tôi. Một điều nữa, tác động lên lưng ngư dân Việt Nam, mục đích của nó có liên quan đến việc duy trì ổn định trong khu vực Vịnh Bắc Bộ, cũng là một vấn đề chính trị mà nhà nước Việt Nam phải thi hành đúng luật pháp? Hy vọng, Việt Nam bắt đầu tiến hành ngay lập tức, sau khi cơ chế đàm phán thủy sản có hiệu lực, phân giới cắm mốc Vịnh Bắc Bộ và thủy sản sẽ được giải quyết theo qui định lịch sử đảng đã có từ trước vào thời Hồ Chí Minh và Chu Ân Lai ký hiệp ước, ngày 07 tháng 7 năm 1955, "Hiệp ước nhượng lãnh hải và Vịnh Bắc Bộ Vạn Niên".

Tiến trình đàm phán bí mật Thành Đô 1990 (Kỳ 5)


Huỳnh Tâm (Danlambao) - Sau vài tháng chưa nguôi ngoai cái hội nghị bí mật Thành Đô, Bắc Kinh không cho Hà Nội tùy tiện an phận, gửi chỉ thị độc đến Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười hãy tiếp nhận mật lệnh mới, dù đang bất tỉnh cũng phải đứng lên vặn lấy sức người thực hiện "bình thường hóa quan hệ Trung-Việt" theo chỉ thị nghị quyết "Kỷ yếu" đã định. Đồng thời Tiền Kỳ Thâm đã 2 lần bí mật gặp Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng Đỗ Mười và nhiều lần hẹn gặp Thứ trưởng thứ nhất Bộ ngoại giao Việt Nam Đinh Nho Liêm để thúc giục, tiến hành gấp rút nghị quyết Trung-Việt, nhằm nhanh chóng đạt giải pháp chính trị "đảng còn nước mất", buộc đảng Cộng sản Việt Nam tận dụng hết khả năng chạy theo tiến trình toàn diện chính trị. Tất nhiên không thể cưỡng lại ý Bắc Kinh, phải chấp nhận diễn biến "bình thường hóa quan hệ Trung-Việt" vì đảng sống thuận theo ý Bắc Kinh, chính bóng hình lờ mờ của "Bác" xưa nay vẫn làm thân "lược cài" cho chiến sách bành trướng hết sức tàn nhẫn không còn lối thoát nào khả thi cho dân tộc Việt Nam, ngày nay lộ trình ấy đảng "Bác" vẫn tiếp tục thi đua cho đến ngày tàn đất Việt.

Tiến trình đàm phán bí mật Thành Đô 1990 (Kỳ 4)

 Huỳnh Tâm (Danlambao) - Hội nghị bí mật Thành Đô 1990, Nguyễn Văn Linh tuyên bố "3 quyết tâm" khẳng định trung thành với "Bác" đảng Trung Cộng:
- Chúng tôi quyết tâm sửa chữa những sai lầm về chính sách trong quá khứ và không bao giờ quên ơn đảng BCT/TW Trung Cộng. "Ngã môn hữu quyết tâm giải quyết quá khứ chánh sách đích thất ngộ hòa vĩnh viễn bất hội vong kí cảm tạ song phương BCT/ Trung quốc trung bộ".
- Chúng tôi quyết tâm khôi phục lại chính sách Trung Cộng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, năm xưa đã quan hệ hữu nghị truyền thống giữa hai đảng và hai nước. "Ngã môn quyết tâm khôi phục hồ chí minh chủ tịch đích trung quốc quốc gia chánh sách, tại quá khứ đích nhất niên lí nhất trực thị lưỡng đảng, lưỡng quốc chi gian đích truyền thống hữu hảo quan hệ".
- Việt Nam quyết tâm dựa vào quan hệ tốt đẹp với Trung Cộng là điểm khởi đầu cơ bản của thời kỳ này, xem Hoa Kỳ là kẻ thù, đối đầu trực tiếp với Trung Cộng Quốc. "cơ vu dữ trung quốc quốc gia trọng điểm cơ sở lương hảo quan hệ việt xác định đích xuất phát điểm thị giá nhất thì kì, khán đáo mĩ quốc thị vi địch nhân, dữ trung quốc trực tiếp đối kháng".

Tiến trình đàm phán bí mật Thành Đô 1990 - Kỳ 3

Huỳnh Tâm (Danlambao) - Nguyễn Cơ Thạch: "Một thời kỳ Bắc thuộc rất nguy hiểm đã bắt đầu!".
Giang Trạch Dân cần một bản văn kiện đàm phán bí mật, đề nghị Nguyễn Văn Linh cùng ký vào "Kỷ yếu", Trung Cộng đã có chủ ý bày ra một âm mưu sâu xa, Nguyễn Văn Linh không nề hà việc bán nước này, ông rất vui vẻ xắn tay áo đóng ký, từ đó Thành Đô Tứ Xuyên chính thức chào đời bản lịch sử "Kỷ yếu Thành Đô 1990", nội dung chuyên chở toàn bộ lộ trình Việt Nam đi về hướng bành trướng Đại lục.

Tiến trình đàm phán bí mật Thành Đô 1990 (Kỳ 2)




Huỳnh Tâm (Danlambao) - Lịch sử hành tinh này xem Việt Nam là một thành viên góp phần tạo nên sự thành hình của thế giới. Mỗi chúng ta là một thành tố tạo dựng nhân loại, đóng một vai trò ngày càng quan trọng, tất cả đã là người đều được quyền sống có giá trị như nhau, mỗi người sinh ra ở cõi đời này đồng nhận được ưu tú nhân ái. Cho nên khi đất nước bị suy sụp chúng ta có quyền xây dựng, những ai làm vật cản trở sẽ bị sa thải và biết tha thứ những kẻ từng tội lỗi, điều này đạo đức của dân tộc Việt có thừa, và tất yếu bảo vệ chính đáng theo qui luật sinh tồn của dân tộc Việt.

Tiến trình đàm phán bí mật Thành Đô 1990 (Kỳ 1)

Huỳnh Tâm (Danlambao) - LTG: Chúng tôi đang tổng hợp tài liệu viết "Hồ Chí Minh, một gián điệp hoàn hảo". Bỗng dưng bức xúc trước lời gọi "Chúng Tôi Muốn Biết" về tình hình của đất nước, cho nên mạn phép vào ngã rẽ đất nước đang điêu linh để viết loạt bài "Tiến trình đàm phán bí mật Thành Đô 1990", loan tải trên mạng Dân Làm Báo, hầu gửi đến toàn thể công luận và đảng viên Cộng sản để cùng nhau biết về sự thật sau lưng của những kẻ phản quốc, bán nước Việt Nam cho Trung Quốc. Nội dung tài liệu này đã đối chiếu rất trung thực từ trong ngăn kéo của BCT/TW đảng Cộng sản Trung Quốc và Việt Nam.

Khái lược về lịch sử hình thành của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa - Phần 2

Khái lược về lịch sử hình thành của QLVNCH

Quân Chủng Lục Quân

Nhìn chung, Lục Quân được gia tăng lên đến 450,000 người, chia ra 13 sư đoàn, gồm 171 tiểu đoàn lưu động được phối trí như sau: Sư Ðoàn 1, 2, và 3 trấn đóng tại Vùng 1 Chiến Thuật. Sư Ðoàn 22 và 23 trấn đóng tại vùng 2 Chiến Thuật. Sư Ðoàn 5, 18, và 25 trấn đóng tại Vùng 3 Chiến Thuật. Sư Ðoàn 7, 9, và 21 trấn đóng tại Vùng 4 Chiến Thuật. Ngoài ra, còn có hai sư đoàn tổng trừ bị là Sư Ðoàn Dù và Sư Ðoàn Thủy Quân Lục Chiến. Bốn mươi lăm (45) tiểu đoàn Biệt Ðộng Quân được chia ra thành những liên đoàn đặt trực thuộc các Vùng Chiến Thuật. Năm mươi tám (58) tiểu đoàn Pháo Binh. Trong số những tiểu đoàn này, chỉ có mỗi một tiểu đoàn được trang bị đại bác 175 ly có tầm bắc xa tương đương với đại bác 130 ly của cộng quân. Các đại bác khác đều thuộc loại 105 ly hay 155 ly có tầm bắc ngắn hơn đại pháo của địch tới mươi cây số. Mười chính (19) thiết đoàn Kỵ Binh.
Lực lượng Ðịa Phương Quân và Nghĩa Quân tại các tiểu khu và chi khu cũng gia tăng đáng kể, lên đến 550,000 người vào năm 1972. Quan trọng hơn nữa, lực lượng này được trang bị vũ khí tối tân M-16 và M-60 để thay thế các vũ khí lỗi thời như M-1 và trung liên BAR. Lục Quân có Lục Quân Công Xưởng tại Gò Vấp để sửa chữa và bảo trì những chiến cụ nặng như chiến xa và đại bác, v.v.

Khái lược về lịch sử hình thành của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa - Phần 1

Khái lược về lịch sử hình thành
của Quân Lực VNCH


Hoàn cảnh chánh trị lúc Quân Ðội Quốc Gia VN ra đời

Lịch sử thành lập Quân Ðội Việt Nam Cộng Hòa là một tiến trình khá phức tạp trải dài trong nhiều năm, và gắn liền với những diễn biến của giòng lịch sử Việt Nam cận đại. Ðể độc giả có một ý niệm khái quát về sự hình thành đó, chúng tôi xin tóm lược hoàn cảnh chính trị của nước nhà vào thời kỳ chiến tranh Việt Nam bắt đầu bùng nổ.
Sau khi Ðệ Nhị Thế Chiến chấm dứt, quân đội viễn chinh Pháp trở sang Ðông Dương đem theo lực lượng hùng hậu chiếm đóng ba xứ Việt, Miên, Lào, với manh tâm đặt lại nền đô hộ trên các thuộc địa cũ theo chánh sách thực dân cố hữu của người Pháp. Tướng De Gaulle bổ nhiệm đô đốc Thierry d'Argenlieu làm cao ủy Ðông Dương và danh tướng Leclerc de Haute Cloque làm tư lệnh quân đội viễn chinh. Vào cuối tháng 9 năm 1945, quân đội Pháp đã núp bóng quân đội Anh do tướng Gracey chỉ huy để giải giới quân đội Nhật từ vĩ tuyến 16 trở xuống.